Hung Thần Của Tuổi Xuân


Hung Thần Của Tuổi Xuân

Nguyễn Lân

Sinh, bệnh, lão, tử – bốn giai đoạn của đời người, có ai thoát được không? Sinh, Tử – điều dĩ nhiên của Tạo Hoá. Bệnh – có người suốt đời bệnh rề rề, có người đương khỏe bất thần xuất hiện căn bệnh nan y, tháng trước còn mạnh cùi cụi, tháng sau đã gục ngã vì căn bệnh ung thư hiểm nghèo, tháng trước còn khiêu vũ lả lướt, tháng sau bò lết vào cầu tiêu vì nàng Vertige chợt đến hành hạ, đi đứng loạng choạng, ngả nghiêng, tháng trước còn thuyết trình, nói năng hùng hồn trước máy vi âm tháng sau đứng trước cử tọa không biết mình nên nói gì, nên nói như thế nào, nhìn những người quen mà như chưa từng biết. Ôi! Alzheimers tới, làm sao chặn được?! Chỉ có Lão là có người thoát được. Tôi biết một người, một anh bạn rất thân cùng tuổi với tôi mà trông trẻ hơn tôi đến cả hai thập niên từ vóc dáng đến làn da, mái tóc. Chúng tôi đều bước đến “bát tuần thượng thọ” nhưng anh trông không quá 60! Anh chưa bao giờ đả động tới chuyện “cái già xồng xộc nó thì theo sau” nhưng thế nào tôi cũng phải tìm ra bí quyết của người tránh được hung thần của tuổi xuân này.
Một lần gặp gỡ, tôi hỏi: “Anh ơi! Sao hung thần của tuổi xuân không đến thăm anh? Sao bác sỹ giải phẫu thẩm mỹ tồi tệ nhất, tàn nhẫn nhất là Thời Gian lại né anh?”
Anh trầm ngâm, rồi nhỏ nhẹ: “Nhiều lý do lắm. Vắn tắt thôi nhé.
Thứ nhất là vệ sinh ăn uống. Mình là loại ăn tạp. Thịt, cá, rau, đậu, đồ biển (nếu không bị dị ứng), ăn hết nhưng với số lượng vừa phải. Sau bữa ăn, nhìn thức ăn phải còn thấy khoái khẩu, chớ tham ăn quá hay nể bạn nể vợ ép ăn đến căng bụng. Các loại rau xanh đa phần đều cần cho bộ máy tiêu hoá, thuộc loại hàn, âm tính. Ớt vàng, ớt đỏ thuộc loại nhiệt, dương tính. Nếu bộ máy tiêu hoá của mình tốt, nên ăn hết các loại thực vật đủ màu. Theo đông y là để giữ cho âm dương quân bằng. Màu vàng, màu đỏ thuộc dương, màu xanh thuộc âm. Nhưng nếu cơ thể yếu ăn ớt vàng, ớt đỏ nhiều dễ sình bụng. Kefir-một loại nấm mà dân vùng Himalaya đã xử dụng như một loại thuốc tăng cường sức khỏe từ mấy trăm năm nay. Kefir là loại thực phẩm rất tốt cho bộ máy tiêu hoá. Blackstrap Molasses-mật mía cần cho những người ngoài 50 hay lớn tuổi đã bắt đầu bị Arthritis. Mình dùng những thứ này càng sớm càng tốt tránh được đau nhức. Đại khái là thế. Nếu muốn biết kỹ lưỡng phải tham khảo thêm với chuyên viên dinh dưỡng.
Thứ hai là tập thể dục thường xuyên. Mình đã cao tuổi đâu cần tập tạ đòi cơ bắp cuồn cuộn. Chỉ cốt sao cho thịt tay chân khỏi nhão, bụng không phát triển vuợt ngực. Đi bộ hàng ngày. Mùa đông, đành đi bộ trong nhà ít nhất 20 phút. Cái hay là nhà ai cũng có gương soi, càng lớn tuổi dáng người càng gù, lưng càng còng. Đi ngang qua gương thấy dáng trông già và khòm, mình sửa ngay, cố giữ cho lưng thẳng, hai vai không xệ. Thường phong cách trẻ trung làm mình trông bắt mắt thiên hạ, trông đẹp hơn.
Thứ ba, giữ cho tâm hồn được thanh thản, sảng khoái. Đây là yếu tố quan trọng nhất. Trong cuộc sống luôn luôn chúng ta bị căng thẳng, bị dồn nén với bao nhiêu điều bất như ý từ trong gia đình ra ngoài xã hội. Là người nhậy cảm, cầu toàn càng dễ đau khổ, bực tức, cay cú, giận hờn. Là người luôn luôn mong muốn hơn người, ham danh lợi dễ vọng động trong bon chen, tranh đua tại trường đời đưa đến ganh ghét, tị nạnh, chèn ép, ích kỷ, nhỏ nhen. Nghĩ xấu cho ai, vu khống người khác để giành phần thắng đều làm “tâm” mình cằn đi, trái tim khô cạn. Đừng nghĩ là vượt thiên hạ, hơn ai là mình sung sướng. Cái buồn sẽ đến mau chóng, cái hối hận sẽ kéo mình quị dần. Mình sẽ chóng già! Đấu trí, đấu lực, thoạt mới nghe có vẻ hách, có hùng khí. Nhưng theo tôi, những cái đó chính là nguyên nhân đẩy chúng ta xuống vực sâu, lao đao tinh thần, héo mòn thể xác. Phải chăng đó là cách mời mọc hung thần của tuổi xuân đến thăm sớm hơn trời định?

Tôi chọc quê: “Vậy thì chỉ có đi tu thôi”
Anh cười nhẹ: “Thế đấy. Nhưng cứ gì phải “đi tu” hay ở chùa, trong tu viện. Mình tu thân, tu tâm, cố rèn luyện tư tưởng, sửa đổi cung cách đối đãi tha nhân, biết tội nghiệp thương yêu người mà cũng chính là biết tội nghiệp thương yêu mình. Tránh chỉ trích, chê bai, so sánh. Thấy điều bất như ý thà cứ lờ đi còn hơn gân cổ bàn cãi để mất đi một người bạn. Xét thấy đối tượng là người có thể chung ý kiến với mình không, là người có nhiều tự ái không, lúc nào nên lựa lời khuyên nhủ. Tình người vô cùng quan trọng trong cuộc sống. Mấy ai tịch cốc tu tiên hay sống đơn độc xa lánh nhân loại? Trong xã hội càng quen biết nhiều cũng dễ được thương yêu, dễ gặp may mắn mà cũng dễ đối đầu với bi lụy. Thế nào mà chẳng có lúc đụng chạm. Nhẫn nhịn – không dễ đâu. Nhưng làm được điều này mình thấy hãnh diện cho bản thân. Nóng nẩy, thô lỗ, cục cằn – phải cố sửa – cũng khó lắm. Nhưng sẽ được yên lòng khi mình chuyển hóa, thắng được những điều làm người khác phiền lòng. Tươi tắn, một nụ cười trên môi – chẳng phải ai cũng có – nếu không tập luyện. Được như vậy, chính bản thân sẽ tràn đầy hạnh phúc vì cảm thấy sự hiện diện của mình là món quà đáng quý cho kẻ khác, lòng ta sẽ được “an nhiên tự tại”.
Tôi hỏi tới: “Còn gì nữa không?”
Anh nghiêm chỉnh: “Còn nhiều… nhiều lắm. Đại loại thì thế. À! Tính tiếu lâm , có tinh thần khôi hài cũng cần để ngăn chặn hung thần tuổi xuân tránh đến gặp mình nữa. Chuyện gì trên đời cũng có thể kéo theo một chút cười. Dù là cười nụ, cười mím chi nhưng là cái cười sâu sắc, hiền hòa mà dễ thương. Nhưng mấy ai bẩm sinh đã sẵn duyên dáng, cuốn hút, làm người khác vui? Cái này phải học, đúng hơn, phải sống nhiều, phải đọc nhiều và có tâm hồn thứ tha.
Bạn ơi! Bạn có mê giàu sang phú quý không? Bạn có cật lực kiếm tiền không? Nếu có, nó là con dao hai lưỡi. Giầu có, danh vọng làm bạn mát mặt với thế gian, nhiều khi lấy được những tia nhìn thán phục, nhưng rất dễ lôi kéo sự chú ý của hung thần tuổi trẻ. Lao vào công việc nhiều, suy tư lắm chỉ đưa tới tâm hồn căng thẳng. Cố gắng làm sao cho vừa đủ sống. Mà biết thế nào là “vừa đủ”?! Nghĩ đi! Sự thư giãn, thoải mái không có thì làm sao chẳng chóng già nua? Dao, kéo, độn, cắt, vá, khâu, bơm, hút… sửa sắc đẹp với thời gian chỉ đưa tới tồi tệ hơn!
Bạn ơi! Người có tâm hồn thi nhân, lãng mạn, đa cảm, dễ bén nhậy, dễ hờn giỗi mà cũng dễ quên. Những người yêu chuộng cái đẹp, cái đẹp thu hút tuyệt diệu của vũ trụ, của thiên nhiên, cái đẹp lãng mạn của văn chương thi phú, cái đẹp đầy màu sắc sống động của các loại cầm thú và đương nhiên, cái đẹp của con người từ thể xác đến tâm hồn là những gì mà các bác sĩ sửa sắc đẹp tàn nhẫn thế mấy cũng không thể tạo những vết nhăn, những rãnh cầy, những cặp mắt đục ngầu với tia nhìn đờ đẫn trên mặt chúng ta được, Đấy là bửu bối khiến hung thần của tuổi xuân phải chào thua.
Mặc cảm tự tôn hay tự ti đều làm ta cằn cỗi. Tự tôn dễ đưa ta tới kiêu ngạo, coi rẻ người khác. Như vậy sẽ vấp phải lòng đố kỵ của tha nhân và dễ bị xa lánh ghét bỏ. Tự ti sẽ đưa ta tới cử chỉ khúm núm, tính sợ hãi. Như vậy sẽ vấp phải sự khinh thường, lạnh nhạt của người đời. Chúng ta, ít nhiều ai cũng mang mặc cảm. Thôi thì, ráng tập dần, loại bỏ mặc cảm từ từ để bản thân nhẹ nhàng, thoải mái, tự nhiên khi tiếp xúc với đời. À! Tôi thường tránh gồng mình, tránh vẻ kẻ cả để lấy “oai”, để “hù” thiên hạ!
Điểm quan yếu là có thể lịch sự, tử tế, dễ thương với bất cứ ai như với những người ta thương yêu không? Tình mến trọng của tha nhân cho ta cũng như sự thuơng yêu của ta với nhân loại sẽ làm ta thấy vui vẻ, thấy sung sướng, thấy mình hữu ích, thấy mình đáng giá hơn lên. Đó là chân hạnh phúc. Đó là tình người. Tình người chính là vũ khí tự vệ chống lại hung thần của tuổi trẻ, bạn ạ!
Lối sống trong tĩnh lặng, thanh bình, thân ái, nhân hậu, khiêm nhường, nhã nhặn dễ mang Hạnh Phúc tới hơn là suốt đời chỉ đeo đuổi sự thành công và quên đi sức khoẻ của chính mình. Kinh nghiệm đã mở mắt cho tôi thấy như thế.
Nhưng trên hết, điều mà ta không thể đoán biết, trù liệu là Thiên Định. Làm đủ mọi cách nhưng “cái già xồng xộc nó thì theo sau” thì đó-Dieu seul le sait (chỉ có Trời biết) số mệnh của ta Trời định cho như thế. Đây cũng là hậu quả của những việc ta đã và đang làm. Có phải là nghiệp chăng?
Cảm ơn bạn. Tôi đã hiểu tại sao chúng ta cùng tuổi, đời sống tương đương, gia cảnh không chênh lệch nhiều mà trông bên ngoài tôi già hơn bạn đến hai chục tuổi, cả một thế hệ! Hung thần của tuổi xuân xa lánh bạn. Mừng cho bạn!
Đáng mừng nhưng… sợ rằng cũng không được lâu đâu! Trông bề ngoài có vẻ trẻ trung yêu đời thế nhưng thật sự nội tạng của tôi cũng… kém rồi, chẳng hơn những người cùng trang lứa. Trời chưa cho cái bên trong vì trên đời này làm gì có sự toàn hảo!
Thời gian không chừa một ai đâu, bạn ạ!

                                            NGUYỄN LÂN
Cựu Giảng Nghiệm Viên Parasitology-Đại Học Y Dược Sài Gòn
Cựu Giáo Sư Vạn Vật chương trình Tú Tài-Nữ Trung Học Gia Long Sài Gòn
(Để tặng cựu nữ sinh Gia Long Nhã Lan, xướng ngôn viên LSR và HVTV của Little Saigon Nam California, người đã gợi ý cho bài viết này)

 

 

Văn Hoá Tốt Đẹp

 

Văn Hoá Tốt Đẹp

Trần Mộng Tú

Hishako ngồi trong một chiếc ghế khá to, chung quanh thân hình mỏng manh, bé tí, của bà bao nhiêu là gối, chăn, chèn, chắn để những cái xương của bà được bọc êm ái không chạm vào thành ghế cứng. Bà nhìn qua khung cửa kính, mảnh vườn nhỏ cuối thu ngoài kia đã bắt đầu trống trải, xơ xác, lá rụng hết rồi. Những cái cành khẳng khiu vươn ra như những cánh tay gầy không mặc áo, chúng đang chờ mùa đông tới.

Ông Kentaro chồng bà, ngồi trên một chiếc xe lăn, không xa bà mấy. Tóc ông rụng gần hết, mấy sợi còn lại trắng như cước dính sát vào da đầu. Cái kính ông đeo trễ xuống chỏm mũi, ông cũng chẳng cần sửa lại. Ngoài kia có cái gì đáng ngắm đâu

“Mùa thu đã hết” – ông lẩm bẩm trong miệng. Bà không nghe thấy, mà thật ra bà cũng chẳng để ý, ông nói đến lần thứ ba, bà mới nghe rõ, bà chỉ gật đầu đáp lại.

Mùa thu đã hết, mùa phơi hồng cũng chấm đứt. Bà mơ màng nhớ lại thời trẻ của hai ông bà. Chao ôi sao mà đẹp thế. Ông bà có vất vả thật. Hết làm ruộng đến trồng rau, qua làm rau thì đến đợt phơi hồng. Làm ruộng thì nhà cũng chỉ có ba sào, trồng rau thì khoảng ba mươi chiếu (*), hồng thì nhà có năm cây cổ thụ, mỗi cây cho từ hai trăm tới ba trăm  trái. Ông bà có việc làm quanh năm, nhờ thế mới có tiền cho ba đứa con ăn học. Bà nhớ hồi nhỏ các con cũng phụ với ông bà xếp những trái hồng đã phơi khô vào thùng để bỏ mối. Nói đến hồng bà lại nhớ hình ảnh ông lúc còn khỏe, còn trẻ, một ngày ông hái cả ngàn quả hồng và ông luôn luôn nhớ không bao giờ hái hết, phải chừa lại một ít quả trên cây như một niềm tin cần thiết cho mùa thu hoạch năm tới được tốt đẹp, (người Nhật gọi là Kimorigaki) và để cho những chú chim ruồi mejiro có thức ăn trong mùa đông nữa. Bà nhớ là khi hai vợ chồng làm ruộng hay trồng rau, luôn luôn phải để dành một luống không gặt hết lúa, không cắt hết rau cho những con chim, con chuột đồng, con sâu, cái kiến được no lòng. Ngay cả những thân cây khô, những đống củi cũng là nơi trú ẩn cho những sinh vật nhỏ bé như con ong, con sâu, ông bà cũng không bao giờ nỡ đuổi chúng đi.

Cái văn hóa tốt đẹp này của người Nhật được cả thế giới ngưỡng mộ.

Bây giờ ông 88 tuổi rồi, bà kém ông 3 tuổi. Cả hai cùng mong manh yếu đuối. Kết quả của mấy chục năm làm việc đồng áng trong nắng, trong tuyết, bốn bàn tay gầy guộc co quắp lại. Cả hai ông bà không còn cầm được cái gì cho vững chắc trên tay nữa, di chuyển cũng trên cái ghế có bánh xe.

Ba người con lên tỉnh học, lập gia đình rồi ở lại. Họ không thể về quê sống, vì không có công việc thích hợp với những chuyên môn kiến thức của họ. Họ cũng không mang ông bà đi được vì nhà cửa ở tỉnh chật hẹp và đắt đỏ. Ông bà vẫn sống trong căn nhà của sáu mươi năm về trước, ngôi nhà từ hồi ông bà lấy nhau. Các con có sắm sửa một ít đồ đạc cho tiện nghi đời sống như tủ lạnh và máy giặt, bếp điện. Đấy là từ mười năm về trước khi ông bà còn tự chăm sóc cho mình được. Bây giờ thì phải có người để dùng những đồ đạc tiện nghi và văn minh đó.

Con cái những ngày lễ, ngày nghỉ phép thay nhau thỉnh thoảng về thăm, ở một vài ngày rồi đi. Mấy đứa cháu chơi với ông bà vài ngày cũng chán vì nhà và vườn không còn gì hấp dẫn khi không có người săn sóc và ông bà càng ngày càng chậm, đi không vững, nghe không rõ. Ba người con cùng thương cha mẹ nhưng họ không biết làm gì khác hơn. Họ cũng có thuê người mang thức ăn tới, nhưng lại không đủ tiền mướn một người làm tất cả các việc lặt vặt và ở luôn trong nhà. Cuối cùng họ chung nhau tiền mua cho ông bà một anh carebot.

Anh carebot này rất giỏi, anh làm gần như đủ mọi việc, anh có thể bế ông bà từ ghế vào giường, từ giường vào nhà tắm. Anh biết sửa soạn bữa ăn cho ông bà, miễn là trong tủ lạnh hay trên kệ có sẵn thức ăn đã nấu hay đồ hộp.

Bà Hishako và ông Kentaro mới đầu buồn tủi lắm, khi thấy mình được (hay bị) săn sóc bằng người máy, nhưng dần dần họ phải miễn cưỡng chấp nhận thôi. Ngoài thức ăn một tuần hai lần có người giao tới nhà, bỏ tủ lạnh cho. Tất cả các công việc khác từ hâm nóng thức ăn, bế vào giường, làm vệ sinh nhà cửa, giúp giặt giũ, tắm rửa hoàn toàn trông vào carebot.

Từ ngày có carebot con cháu của ông bà hình như đến thăm ít hơn. Bà nghĩ chúng bận làm, bận học. Nhưng ông thì không nghĩ thế, ông nói :

     – Chúng nó giao bà với tôi cho người máy rồi.

     Bà an ủi ông :

     – Nhưng ông không thấy người máy cũng biết ôm ấp à. Thỉnh thoảng Sato (tên ông bàđặt cho carebot) chẳng ôm tôi là gì.

Cứ như vậy đã ba, bốn mùa hồng đi qua, hình ảnh con cháu mờ dần trong hai cặp mắt già nua. Những mảnh đất lâu năm không ai trồng trọt, tự nó đã mọc đầy cỏ dại, những cây hồng không ai hái, trái rụng, chết mục khắp mặt đất. Hai ông bà như hai con chim già trong một cái lồng bắt đầu xiêu đổ.

Ông Kentaro ra hiệu cho Sato đến đùn chiếc ghế lại gần vợ. Ông đưa bàn tay khẳng khiu của mình sang nắm bàn tay khô mốc của vợ; bà biết ông sắp muốn nói điều gì, bà nghiêng đầu dựa sát vào vai ông để nghe cho rõ.

Ông nói vào tai vợ :

– Tại sao văn hóa của người Nhật đối với thiên nhiên tốt đẹp như thế !

Họ chia mùa màng cho chim chóc, muông thú, sự quan tâm tối đa. Sao họ lại để cho những mảnh kim loại, những thiết bị điện tử săn sóc cha mẹ họ. Khi các con còn nhỏ tôi với bà thay nhau bế ãm, thay nhau cho con bú mớm. Con khỏe mạnh mình cười, con ốm đau mình khóc. Mình có giao cho ai đâu, thậm chí con chó, con mèo chơi với con cũng phải ngay bên cạnh mình. Bây giờ tôi với bà có chết trong nhà này thì anh Sato chắc là chạy chung quanh mình kêu bíp bíp… Anh ta sẽ kêu hoài như thế cho tới khi chị Junko mang thức ăn tới, có thể là ba hay bốn ngày hôm sau.

Bà im lặng nghe ông nói, không biết trả lời thế nào. Bà nhớ khi anh con trai trưởng mang Sato tới cho ông bà, anh có nói :

      Cha mẹ đừng lo sợ gì, có carebot là như có con ở bên cạnh, anh ta làm hết được mọi việc, có khi còn giỏi hơn con nữa. Mà cha mẹ có biết không, bây giờ thanh niên Nhật họ lười cưới “vợ người” lắm, họ chỉ cần mua một cô vợ robot về là được đủ việc và chỉ tốn tiền có một lần thôi. Họ sẽ không cần phải làm việc nhiều để nuôi gia đình như con bây giờ đâu.

Bà nhớ là bà đã hốt hoảng nhìn xem cô con dâu có đứng gần đó không ? Cô đó nhậy cảm lắm, nghe được thì gia đình sẽ mất vui. May quá, cô ấy đang chuyên trò gì đó với hai đứa con.

Khi con cháu ra về hết để lại anh Sato, ông bà cũng mất cả tuần lễ mới quen với cách đi đứng, cách chăm sóc của anh. Bây giờ dù muốn hay không ông bà cũng phải chấp nhận sự hiện diện của anh. Không như chồng, lúc nào cũng than phiền là anh ta bằng máy, những va chạm của anh cứng ngắc, anh ta không có cảm xúc khi chăm sóc mình. Bà Hisako mỗi lần nhận được điều gì của anh, bà cố hình dung ra anh là người bằng xương bằng thịt. Thậm chí khi anh bế bà từ ghế vào giường bà nghe được cả hơi thở và nhịp tim anh đập. Bà có tưởng tượng thái quá không ?

Chị Junko mang thức ăn nấu sẵn tới như thường lệ, chị cất thức ăn vào tủ lạnh rồi đi tìm Sato. Chị cũng có bổn phận kiểm soát lại Sato mỗi khi chị đến, xem chức năng phục vụ của anh có cần điều chỉnh lại không ?

Căn nhà im ắng quá, thật ra cả ba người này có bao giờ gây tiếng động to nào đâu. Chị đi từ nhà ngoài vào tận buồng ngủ của ông bà mới gặp cả ba người.

Trên hai chiếc giường nhỏ kê song song cạnh nhau. Bà Hisako và ông Kentaro nằm như ngủ, nằm rất thẳng thắn trên gối và chăn đáp ngang ngực. Sato đứng gập người, như cúi lạy dưới chân giường của hai người. Chị đến gần, áp mặt mình vào mặt bà, rồi lại áp sang mặt ông. Cả hai đều không còn thở nữa. Chị chạm tay mình lên vai Sato, anh ta không có phản ứng nào, không phát ra tiếng động nào, hình như anh cũng đã “chết”.

Junko lặng lẽ đi ra khỏi nhà, khép rất nhẹ cánh cửa lại sau lưng mình. Hành động của chị như một người máy.

Trần Mộng Tú

(12/12/2016)

 

Cuộc Nói Chuyện Giữa 2 Lão Ông

Cuộc Nói Chuyện Giữa 2 Lão Ông

Ông lão châu Á nói: “Con của tôi thật sự là không có lương tâm!”

Ông lão châu Âu: “Có chuyện gì vậy ông?”

Ông lão châu Á nói: “Con tôi hỏi tôi có nguyện ý đến ở viện dưỡng lão không?”

Ông lão châu Âu: “Viện dưỡng lão rất tốt mà, tôi cũng đang ở đó”.

Ông lão châu Á: “Thật vậy sao? Nơi đó mà ông cũng đến được sao?”

Ông lão châu Âu: “Tại sao lại không đi chứ?”.

Ông lão châu Á: “Nơi đó chỉ dành cho những người không có con cái thôi. Nếu tôi tới đó, nhất định sẽ bị bạn bè chê cười, tổn thọ mất”.

Ông lão châu Âu: “Không đúng đâu. Khi đã có tuổi, ở trong nhà dưỡng lão là thuận tiện nhất, sao lại có thể bị chê cười được chứ?”

Ông lão châu Á: “Đến một độ tuổi nhất định, thường thích ở cùng với con cháu, cảm nhận tình cảm gia đình. Sống trong viện dưỡng lão, cô đơn tịch mịch, thật đáng thương lắm”.

Ông lão châu Âu xua tay: “Ở cùng con cái sao? Vậy không được đâu, tôi mà ở cùng con cháu quá 2 tuần sẽ không thoải mái, chịu không được”.

Ông lão châu Á: “Ở cùng con cháu mình chẳng phải rất vui vẻ sao, sao lại không thoải mái chứ?”

Ông lão châu Âu: “Con của tôi 18 tuổi đã ra ngoài sống độc lập rồi, nó trở về nhà ở mấy ngày tôi rất hoan nghênh. Nếu nó ở trong nhà lâu, còn mang theo vợ con, sẽ ảnh hưởng tới cuộc sống của tôi”.

Ông lão châu Á: “Tôi thật không hiểu, tại sao các ông lại thiếu tình cảm đến thế, chưa gì đã đuổi con cái ra khỏi nhà, lại cho bọn chúng vay tiền đóng học phí. Khó trách con cái các ông đều đưa cha mẹ vào viện dưỡng lão”.

Ông lão châu Âu: “Con cái 18 tuổi là đã trưởng thành rồi, nên tự lập. Cho vay tiền đóng học phí, là tự chúng lựa chọn. Nếu như chúng muốn ở trong nhà, chúng tôi cũng không có ý kiến gì”.

Ông lão châu Á: “Không có ý kiến? Vừa rồi ông chẳng nói con cái ở trong nhà lâu thì cảm thấy khó chịu đấy thôi?”.

Ông lão châu Âu: “Tôi nói là, nếu chúng mang theo vợ con đến ở thời gian lâu, cuộc sống của tôi sẽ bị ảnh hưởng”.

Ông lão châu Á: “Vậy ông ở lâu trong nhà chúng, chẳng phải không cần đến viện dưỡng lão rồi?”.

Ông lão châu Âu nói dứt khoát: “Vậy không được, đến đó vài ngày thì còn được, nhưng vượt quá 2 tuần tuyệt đối không thể được”.

Ông lão châu Á: “Ông thật là kỳ quái, cái này cũng không được, cái kia cũng không xong. Chẳng lẽ cứ phải ở viện dưỡng lão mới chịu sao?”.

Ông lão châu Âu: “Chúng ta có cuộc sống riêng, con cái cũng có cuộc sống của chúng. Nếu chúng ta ở viện dưỡng lão, có thể kết bạn được với rất nhiều người, nếu sinh hoạt có gì phiền toái, đều có nhân viên chuyên nghiệp hỗ trợ. Chúng ta ở riêng ra rất tự do, không phải sao?”

Ông lão châu Á: “Lời của ông nghe thật sảng khoái. Nhưng ông nuôi con tới năm 18 tuổi, chúng đã báo đáp được cho ông cái gì chưa?”

Ông lão châu Âu: “Báo đáp ư? Báo đáp cái gì?”

Ông lão châu Á: “Đương nhiên là đưa ông về ở cùng một nhà, cho ông an hưởng lúc tuổi già rồi. Dù sao ông vào nhà dưỡng lão, thì chẳng được hưởng phúc gì. Con ông có cho ông tiền không?”

Ông lão châu Âu: “Cho tôi tiền ư? Tại sao?”

Ông lão châu Á: “Thì để biểu thị lòng hiếu thảo”

Ông lão châu Âu: “Không, không, không! Tôi không cần con cái cho tiền. Chúng có thể trả nợ hết các khoản đã vay, còn tiền dư thì nghỉ ngơi an dưỡng, tôi vậy là đã vui lắm rồi, tôi không cần chúng cho tiền”.

Ông lão châu Á: “Tôi thấy con của ông thật vô tâm quá, một chút trách nhiệm cũng không có”.

Ông lão châu Âu: “Trách nhiệm sao? Con của tôi đối với tôi không có trách nhiệm gì cả”.

Ông lão châu Á: “Không có trách nhiệm ư? Nếu như ông không có tiền, liệu ông có cần con cái trông nom không?”

Ông lão châu Âu: “Tôi có lương hưu, hơn nữa nhà của tôi cũng đã cho thuê, tôi có đủ tiền dưỡng lão”.

Ông lão châu Á: “Nếu như ông có bệnh, chẳng lẽ không cần con cái chăm sóc sao?”.

Ông lão châu Âu: “Nếu như tôi có bệnh, viện dưỡng lão sẽ đưa tôi đi gặp bác sĩ”.

Ông lão châu Á: “Nếu ông vào bệnh viện, cần người ở cạnh giường chăm sóc, chẳng lẽ không phải con cái ông sao?”

Ông lão châu Âu: “Người châu Âu chúng tôi không có kiểu con cái trực bên giường. Chúng tôi chỉ cần con cái tới thăm, là đã thấy vui rồi”.

Ông lão châu Á: “Nếu ông nằm viện không trả nổi tiền thuốc men, chẳng lẽ không phải con cái ông phải trả sao?”.

Ông lão châu Âu: “Chúng tôi nằm viện miễn phí, không tốn tiền”.

Ông lão châu Á: “Trời ơi! Nuôi con dưỡng già đối với người châu Âu các ông xem ra hoàn toàn không thích hợp”.

Ông lão châu Âu: “Nuôi con dưỡng già là sao? Chúng tôi sinh con, là vì yêu chúng, chưa bao giờ trông cậy con cái phải báo đáp gì lúc tuổi già. Con cái còn có rất nhiều việc phải hoàn thành, phải cố gắng làm việc để trang trải cuộc sống cho gia đình nhỏ, cũng cần hưởng thụ cuộc sống”.

Ông lão châu Á: “Tôi cũng yêu con mình, tôi cũng biết chúng đang ở giai đoạn rất vất vả. Cho nên tôi mới tình nguyện chăm sóc con cho chúng. Nhưng tôi đâu ngờ, chúng thậm chí còn muốn đưa tôi vào viện dưỡng lão”.

Ông lão châu Âu: “Ông còn giúp trông con cho chúng sao? Than ôi, thật không thể hiểu được”.

Ông lão châu Á: “Tại sao trông con giúp chúng lại không thể hiểu được?”.

Ông lão châu Âu: “Trông con là chuyện của cha mẹ, đâu có quan hệ gì tới ông chứ?”

Ông lão châu Á: “Con cái phải đi làm kiếm tiền, tôi dù sao cũng đã về hưu, không có việc gì làm, giúp chúng một chút có sao đâu”

Ông lão châu Âu: “Tại sao không đi bộ, thư giãn, uống coffee, chơi bóng, đọc sách, làm những việc mình yêu thích?”.

Ông lão châu Á: “Chăm sóc cháu trai, chúng tôi thấy rất thuận ý”.

Ông lão châu Âu: “Điều này chẳng khác nào đánh mất cuộc sống của mình. Chúng ta đã chăm sóc con cái, còn những đứa cháu là không phải trách nhiệm của chúng ta”.

Ông lão châu Á: “Tôi biết mà, các ông từ sớm đã đuổi con cái ra khỏi nhà, đến cháu trai cũng khôn muốn bế. Ông không nói đến tình thân, ông quá ích kỷ, khó trách ông chỉ có thể vào viện dưỡng lão”.

Ông lão châu Âu: “Nếu tôi làm ngược lại thế thì chính là đã hồ đồ rồi. Ông vì con trai mà đi trông cháu, giống như không còn cuộc sống của mình, đây là dưỡng già sao? Quan niệm mỗi nước có khác nhau, đối với viện dưỡng lão cách nghĩ cũng bất đồng. Cha mẹ cũng có cuộc sống của mình, khi về già, con cái nên để cha mẹ được tự do”.

 

Chiếc Ví Bị Đánh Rơi

 

Chiếc Ví Bị Đánh Rơi

Mỹ Hằng dịch

Rảo bước về nhà vào một ngày mùa đông lạnh giá, tôi tình cờ phát hiện chiếc ví của ai đó đánh rơi bên đường. Tôi nhặt lên và tìm kiếm bên trong xem có thể tìm thấy giấy tờ nào không, mục đích là để gọi điện cho chủ nhân của nó. Nhưng chiếc ví không có gì ngoài 3 đôla và một lá thư nhàu nát.

Bì thư cũ kỹ với thứ duy nhất trên đó là địa chỉ của người gửi. Tôi bắt đầu mở nó ra với hi vọng tìm thấy một manh mối gì đó. Dòng chữ ghi năm 1924, tôi bất ngờ khi nhận ra rằng lá thư đã được viết cách đây gần 60 năm.

Lá thư được viết bằng mực màu xanh, nét chữ rất đẹp, rất nữ tính với hình một bông hoa nhỏ bên phía góc trái. Nhưng đó lại là lá thư đoạn tình gửi cho Michael, người đàn ông mà tác giả không thể tiếp tục gặp gỡ bởi sự cấm đoán của mẹ cô. Dù như thế, nhưng cô vẫn sẽ mãi mãi yêu anh, chỉ mình anh mà thôi. Ký tên Hannah.

Vậy là manh mối mà tôi có được chính là cái tên Michael – rất có thể ông ấy là chủ nhân của chiếc ví. Tôi thầm nghĩ nếu gọi cho tổng đài thì có lẽ họ sẽ giúp tôi tìm được số điện thoại của người viết lá thư.

Nghĩ là làm, tôi điện ngay cho tổng đài và nói “Đây là một yêu cầu hơi khác thường. Tôi đang cố gắng tìm chủ nhân của chiếc ví mà mình nhặt được. Có cách nào tìm thấy số điện thoại của người có địa chỉ in trên bì thư không thưa cô?”

Cô tổng đài viên đề nghị tôi thử nói chuyện với người quản lý của cô ấy. Cô quản lý lưỡng lự một lát rồi trả lời “Vâng, chúng tôi có số điện thoại của người có địa chỉ ấy, nhưng không thể cho cậu được”. Vì theo nguyên tắc, cô ấy phải gọi đến số điện thoại đó, trình bày câu chuyện của tôi và hỏi xem họ có muốn nói chuyện với tôi hay không. Tôi chờ đợi trong vài phút, cô quản lý gọi lại cho tôi và nói “Có người muốn nói chuyện với ngài.”

Tôi hỏi người phụ nữ bên kia đầu dây có biết ai tên là Hannah không. Với hơi thở khó nhọc, bà trả lời “Chúng tôi đã mua lại ngôi nhà này từ một gia đình có đứa con gái tên Hannah. Nhưng đó là chuyện của 30 năm về trước rồi.”

“Vậy bà có biết hiện giờ gia đình ấy đang sống ở đâu không ạ?”, tôi hỏi tiếp.

“Vài năm trước, Hannah đã gửi mẹ mình vào viện dưỡng lão. Nếu cậu liên lạc được với mẹ của Hannah, có thể sẽ biết được tin tức của cô ấy”, bà đáp.

Bà ấy cho tôi số điện thoại của viện dưỡng lão. Tôi có gọi đến và được biết là mẹ của Hannah đã qua đời. Nhưng may mắn là họ có số điện thoại của nơi mà họ nghĩ Hannah đang sống. Tôi lại tiếp tục gọi đến số điện thoại đó, người phụ nữ nghe máy trả lời rằng hiện Hannah đang sống trong một viện dưỡng lão.

Thật là ngớ ngẩn, tôi tự nói với chính mình. Tại sao tôi lại phải cất công đi tìm chủ nhân của chiếc ví chỉ có 3 đôla và một lá thư gần 60 “năm tuổi” thế này?

Dù nghĩ vậy, nhưng tôi vẫn gọi điện đến nhà dưỡng lão được cho là nơi ở hiện nay của Hannah. Một người đàn ông trả lời “Vâng, Hannah đang sống với chúng tôi.”

Mặc dù lúc đó đã hơn 10 giờ đêm, nhưng tôi vẫn mạo muội ngỏ ý muốn được đến gặp Hannah. Người đàn ông ngập ngừng đáp “Vâng, cô ấy có lẽ đang ở phòng khách xem TV.”

Tôi cảm ơn ông và lập tức lái xe đến viện dưỡng lão. Một y tá trực đêm và một bảo vệ ra đón tôi ở cửa. Chúng tôi lên tầng 3 của một tòa nhà lớn, ngay tại phòng khách, cô y tá giới thiệu tôi với Hannah.

Hannah là một người phụ nữ ngọt ngào, có nụ cười ấm áp, đôi mắt sáng long lanh và mái tóc đã bạc màu theo năm tháng. Tôi kể rằng mình đã nhặt được chiếc ví và đưa cho cô ấy xem lá thư. Nhìn lại nét chữ màu xanh với bông hoa nhỏ bên góc trái, cô hít một hơi thở thật sâu và nói "Chàng trai trẻ cậu biết không, lá thư này là lần cuối cùng tôi liên lạc với Michael.”

Bà quay đi một lúc, trầm ngâm suy nghĩ rồi nhẹ nhàng nói “Tôi yêu anh ấy rất nhiều. Nhưng khi đó, tôi chỉ mới 16 tuổi. Mẹ tôi cấm đoán vì tôi còn quá trẻ. À, anh ấy rất đẹp trai, giống như tài tử Sean Connery vây.”

“Vâng”, tôi đáp. Bà nói tiếp, “Michael Goldstein là một người đàn ông tuyệt vời. Nếu gặp anh ấy, cậu hãy nói lại là tôi đã nghĩ về anh rất nhiều. Và, do dự một lúc, bà cắn chặt môi, “Hãy nói là tôi vẫn còn rất yêu anh ấy”. Bà gượng cười khi đôi mắt đã bắt đầu ngấn lệ, “Tôi đã không kết hôn. Không ai thích hợp với tôi như Michael cả…”

Tôi cảm ơn Hannah và chào từ biệt ra về. Xuống đến tầng 1, người bảo vệ hỏi tôi, “Bà ấy có giúp được cậu không?”

“Ít nhất tôi cũng đã biết được họ của người đàn ông đó”, tôi đáp. “Tôi đã dành cả ngày trời để tìm kiếm chủ nhân của chiếc ví đấy.”

Tôi lấy chiếc ví da màu nâu với nhiều đường viền đỏ ra. Khi nhìn thấy nó, người bảo vệ liền bảo “Đợi đã! Đó là chiếc ví của ông Goldstein mà. Ông ấy lúc nào cũng làm rơi ví cả! Tôi đã nhặt được nó ít nhất 3 lần rồi đó.”

Tay tôi bắt đầu run lên. “Ông Goldstein là ai?”, tôi hỏi.

“Ông ấy là một trong những người bấm giờ ở tầng 8. Tôi chắc chắn chiếc ví đó là của Goldstein”, người bảo vệ nói.

Tôi cảm ơn và vội vã trở lại văn phòng của cô y tá trực đêm, kể cho cô ấy nghe những gì người bảo vệ vừa nói. Chúng tôi lập tức đến tháng máy. Tôi cầu trời là ông Goldstein vẫn còn ở trên đó.

Trên tầng 8, cô y tá khẽ nói: “Tôi nghĩ là ông ấy vẫn còn ở trong phòng khách. Ông rất thích đọc sách vào buổi tối. Đúng là một người đàn ông dễ mến.”

Chúng tôi bước vào căn phòng và ở đó, một người đàn ông lớn tuổi đang lặng lẽ ngồi đọc sách. Cô y tá bước tới và hỏi có phải ông đã đánh rơi chiếc ví không. Ông Goldstein nhìn lên với vẻ ngạc nhiên, đút tay vào túi quần sau và nói “Oh, nó lại rơi nữa rồi sao!”

“Chàng trai trẻ này đã nhặt được chiếc ví và không biết liệu nó có phải là của ông không?” cô y tá nói.

Tôi đưa cho ông Goldstein chiếc ví, ông mỉm cười nhẹ nhõm và nói “Vâng! Đúng là nó đây rồi. Chắc là nó đã rơi khỏi túi quần của tôi hồi trưa này. Tôi muốn hậu tạ cho cậu.”

“Không, không cần đâu thưa ông”, tôi nói. “Nhưng tôi phải cho ông biết một điều. Tôi đã đọc lá thư bên trong vì nghĩ là sẽ tìm được chủ nhân của chiếc ví.”

Nụ cười trên môi của ông đột nhiên biến mất, “Cậu đã đọc lá thư đó sao?”

“Tôi không chỉ đọc, mà tôi còn biết Hannah hiện đang ở đâu nữa.”

Mặt ông tái đi. “Hannah? Cậu biết cô ấy đang ở đâu sao? Cô ấy sao rồi? Cậu làm ơn nói cho tôi biết đi”. Ông nài nỉ.

 “Bà ấy vẫn khỏe…vẫn đẹp như thuở ban đầu hai người biết nhau”. Tôi khẽ đáp.

Ông mỉm cười và hỏi “Cậu cho tôi biết cô ấy đang ở đâu được không? Ngày mai tôi muốn đi gặp cô ấy”. Ông nắm lấy tay tôi và nói tiếp “Cậu biết không, tôi rất yêu người phụ nữ đó. Khi cô ấy đưa cho tôi lá thư này, cuộc sống của tôi gần như đã kết thúc. Tôi không kết hôn, vì tôi biết mình chỉ yêu duy nhất một mình cô ấy mà thôi.”

“Ông Goldstein, hãy đi với tôi”, tôi nói.

Chúng tôi cùng nhau đi thang máy xuống tầng 3. Các hành lang đều tối om, chỉ có 1 hay 2 ánh đèn thắp sáng lối đi dẫn đến phòng của Hannah, nơi bà ấy đang ngồi một mình xem TV. Cô ý tá tiến về phía bà.

“Hannah”, chỉ tay về phía cửa phòng, nơi tôi và Goldstein đang đứng, cô y tá hỏi “Bà có biết người đàn ông này không?”

Hannah chỉnh lại mắt kính, bà nhìn một hồi nhưng không nói lời nào.

Michael khẽ nói, gần như ông chỉ thì thầm “Hannah, là Michael đây. Em còn nhớ anh không?”

Hannah kinh ngạc “Michael! Em không thể tin được! Michael! Là anh sao! Là Michael của em thật sao!”

Goldstein chầm chậm tiến về phía Hannah. Hai người ôm chặt lấy nhau. Nước mắt lăn dài trên má của tôi và cô y tá.

“Cô thấy không, thật đúng là duyên nợ”, tôi nói.

3 tuần sau, tôi nhận được một cuộc gọi “Cậu có thể dành một ngày chủ nhật để tham dự lễ cưới không? Michael và Hannah sẽ kết hôn.”

Đó là một đám cưới tuyệt đẹp, diễn ra trong sự chứng kiến của tất cả mọi người trong viện dưỡng lão. Hannah mặc một chiếc váy cưới màu be, trông bà rất xinh đẹp. Còn Michael mặc một vest màu xanh đậm lịch lãm.

Họ xem tôi như là người hùng vậy. Viện dưỡng lão dành riêng cho họ một căn phòng. Đôi uyên ương chồng 79 tuổi còn vợ 76 tuổi này giống như một cặp vợ chồng son vậy.

Thật đúng là một kết thúc có hậu cho chuyện tình kéo dài gần 60 năm.

Mỹ Hằng
Theo rogerknapp.com